Cậu bé làng Phù Đổng ba năm không nói cười, bỗng vùng dậy trở thành tráng sĩ phi ngựa sắt đánh tan giặc Ân, rồi bay về trời.
I. Diễn hóa tác phẩm truyền thuyết (Từ một trường hợp cụ thể - truyền thuyết Thánh Gióng)
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nhận xét về truyền thuyết đã từng viết: “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian, làm nên tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích...” (1). Ý kiến trên đã nhấn mạnh một đặc điểm rất quan trọng của truyền thuyết, đó là nòng cốt của mọi truyền thuyết trên thế giới và Việt Nam chính là những yếu tố liên quan đến lịch sử đích thực. Yếu tố lịch sử đó có khi đậm, khi nhạt nhưng không thể thiếu trong thể loại này. Đặc biệt, yếu tố lịch sử đó chính là chỗ dựa, là cơ sở quan trọng nhất để móc nối những mảnh khác nhau của truyền thuyết, làm nên một chỉnh thể tác phẩm. Quá trình hình thành và lưu giữ các tác phẩm sử thi, tráng sĩ ca hay truyền thuyết các dân tộc trên thế giới đã phản ánh điều đó. Từ cách đây hơn 30 năm, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khỏa khi viết “Anh hùng ca của Hômerơ" đã giới thiệu vai trò của các Aeđơ (ca sĩ, nghệ nhân)(2) đối với sử thi Hy Lạp. Họ chính là những người thu lượm và nhào nặn lại các mảnh vụn của các truyền thuyết, các bài ca dân gian ở đây đó trong các địa phương rồi biểu diễn lại nó (một cách truyền bá) trong dân gian. Công thức đó là: thu lượm → ứng tác, biểu diễn → thu lượm → ứng tác, biểu diễn → thu lượm → ứng tác, biểu diễn. Quá trình hình thành một truyền thuyết trọn vẹn được hình dung và được tác giả diễn tả lại như sau: “Những câu chuyện kể về một sự kiện nào đó được truyền miệng trong dân gian dưới hình thức truyền thuyết. Những truyền thuyết này trải qua quá trình kể chuyện đã được chế biến ngày càng có tính nghệ thuật hơn về cả nội dung lẫn hình thức để trở thành những bài ca hoặc những bản trường ca..."(3)
Có điều, các mảnh vụn của truyền thuyết hay sử thi vốn không phải là từ một tác phẩm bị vỡ tung ra mà ngược lại, nó là các mảnh được tạo ra, bịa ra từ sức hấp dẫn của “cái cốt lõi của sự thực lịch sử” trong tác phẩm kia. Bản thân sự kiện, nhân vật xuất hiện ở một vùng đất nào đó, có tiếng vang lớn, được nhiều người ngưỡng mộ, được dân gian truyền miệng với nhau. Những người khác sẽ có nhu cầu sáng tạo thêm những sự kiện, nhân vật ở địa phương mình, móc nối vào với sự kiện hay nhân vật nổi tiếng kia để làm sang trọng và tôn vinh hơn cho mảnh đất mình đang sống, để dân chúng có thêm lòng tự hào và gắn bó với quê hương. Từ hàng trăm mảnh vụn khác nhau đó, các nghệ nhân dân gian như những người thợ may cần mẫn và sáng tạo đã nối các mảnh đó lại thành mạch, trau chuốt thêm cho nó, làm cho nó trở nên đẹp hơn và gần hơn với nhu cầu của thời đại mà nó ra đời. Như vậy, nghệ nhân chính là những người gia công cuối cùng, làm nên các truyền thuyết hay sử thi theo công thức trên (thu lượm → ứng tác, biểu diễn), như chúng ta được biết.
Ở một số nước trên thế giới (đặc biệt là những nước có các ca sĩ hay nghệ nhân dân gian được chuyên môn hóa) như Nga, Hy Lạp, Ấn Độ, Italia... nguồn truyện kể hay bài ca sẽ được gia công nhiều hơn, được lắp ghép và hoàn thiện sớm hơn, chứ không còn tồn tại ở những mảnh nhỏ, những mẩu truyện kể như một số nước khác, trong đó có Việt Nam. Đó là lí do vì sao ở các nước bước vào thời đại văn minh sớm hơn, số lượng truyền thuyết hay sử thi của họ lại ít hơn ở các nước có nền văn minh phát triển chậm hơn. Điều này đã được nhà nghiên cứu người Nga E.M.Melêtinxki viết trong cuốn Nguồn gốc sử thi anh hùng: “Sự liên kết thành nhà nước của các bộ tộc là một nhân tố quyết định sự phát triển của sử thi. Chính yếu tố nhà nước này trong tuyệt đại đa số tác phẩm, quy định sự khác nhau giữa sử thi cổ sơ và sử thi cổ điển”(4)
Đồng tình với sự lí giải trên, GS Phan Đăng Nhật đã so sánh quy mô tác phẩm sử thi Ấn Độ với sử thi Việt Nam, ông nhận xét: “Sử thi Ấn Độ đồ sộ đến mức khổng lồ, Ramayana 48000 dòng và Mahabharata 214.000 câu. Trong khi đó sử thi Khinh Dú là lớn nhất 5.730 dòng” (5). Nhưng chúng ta biết, Ấn Độ chỉ có hai bộ sử thi đồ sộ nhất kể trên, còn Tây Nguyên đã có đến hơn 200 sử thi! Về vấn đề này, chúng tôi cũng đồng ý với Phan Đăng Nhật khi ông cho rằng: “Những Vyasa (người sưu tập) đã thu thập, sắp xếp các sử thi nhỏ của các địa phương, điều chỉnh, bổ sung để tạo nên một vài sử thi lớn. Hệ thống các sử thi nhỏ bé, trùng lặp được hóa thân vào sử thi lớn toàn quốc gia..."(6).
Chúng tôi cho rằng, con đường hình thành sử thi mà các nhà nghiên cứu trên nói đến cũng chính là con đường hình thành những tác phẩm truyền thuyết. Sự móc nối các mảnh truyền thuyết và sáng tạo những bài ca dài cho cốt kể truyền thuyết đó đã làm nên những sử thi bất hủ ở cả Việt Nam và thế giới. Nếu không được móc nối chúng lại và thổi vào đó những lời ca hay lời thơ thì khi vượt qua thời đại nảy sinh ra nó, truyền thuyết vẫn chỉ là những mảnh nhỏ, rời rạc, vụn vặt ở các địa phương. Trong quá trình lưu truyền, do đặc điểm truyền miệng và là sản phẩm của tập thể, các mảnh truyền thuyết vẫn tiếp tục được bổ sung, biến đổi. Sự biến đổi đó đậm hay nhạt, nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm của cộng đồng với sự kiện hay nhân vật cốt lõi của truyện.
Truyền thuyết Việt Nam mặc dù là một dòng chảy dồi dào, liền mạch xuyên suốt lịch sử Việt Nam, nhưng có thể nói nó chưa có các nghệ nhân dân gian đi từ nơi này đến nơi khác để sưu tập, xâu chuỗi lại thành một tác phẩm dài hơi, trọn vẹn hơn. Vì vậy, cho đến nay truyền thuyết Việt Nam vẫn tồn tại dưới dạng những mảnh nhỏ, những cốt kể và lời kể khá đơn giản tồn tại ở các địa phương. Các truyền thuyết hiện tồn khá nhiều chi tiết phong phú, ở nhiều địa phương là Lạc Long Quân và Âu Cơ; Hùng Vương chọn đất đóng đô; Hùng Vương bảo vệ cộng đồng; Các tướng của Hùng Vương, An Dương Vương và Mỵ Châu, Trọng Thủy; Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng... nếu có người sưu tập, móc nối chúng lại và kể lại cho công chúng thì chúng sẽ là những tác phẩm có nhiều tình tiết phong phú và hấp dẫn. Chúng tôi xin đơn cử hiện tượng truyền thuyết Thánh Gióng làm minh chứng. Trong truyền thuyết Gióng thì cốt lõi lịch sử của câu chuyện chính là: ở một địa phương thuộc trung châu Bắc Bộ Việt Nam có một dũng sĩ trẻ tuổi đã dũng cảm giết giặc ngoại xâm và hy sinh anh dũng (hoặc âm thầm trở về làm thường dân). Câu chuyện bình thường đó ở khắp đất nước Việt Nam nhiều năm có chiến tranh với giặc ngoài thì nơi nào mà không có. Nhưng chính vì nó quen thuộc và phổ biến như vậy nên nó được người dân nhiều thế hệ quan tâm. Làng nào, vùng nào, dòng họ nào cũng có những câu chuyện tương tự, những nhân vật tương tự Gióng.
Từ câu chuyện nghe được về nhân vật đó, các làng, các vùng khác lại móc nối thêm những tình tiết ngày càng phong phú hơn. Chẳng hạn, ra trận cần vũ khí, thế là có làng ngày đêm rèn vũ khí. Ra trận cần sức khỏe, thì phải ăn nhiều, thế là có những làng giã gạo, làng nấu cơm muối cà. Ra trận cần áo quần tươm tất, thế là sẽ có làng dệt vải, may áo. Đánh giặc thì cần vũ khí, vũ khí này gãy hỏng thì phải có ngay cái khác, thì tre Việt Nam rất nhiều chính là vũ khí ngay tại chỗ để giết giặc... Cứ như thế, truyện ngày càng được nối dài thêm ra, li kì hơn lên. Các vết chân ngựa thành hồ ao, các viên cuội trên đường làng được hình dung như cứt sắt bắn ra từ việc rèn vũ khí, cái vồ đập đất của nghĩa quân Gióng thành rừng tre rừng gỗ, cái áo của dũng sĩ để lại thành tên đặt cho cây, còn người thì cùng ngựa bay tít lên trời xanh... Thực và ảo, lịch sử và mơ ước cứ đan cài vào nhau tạo nên sự phong phú và li kì của truyện.
Tuy nhiên các mảnh truyền thuyết Gióng cho đến nay vẫn tồn tại ở các địa phương, chỉ một số nhà nghiên cứu VHDG, văn hóa dân gian biết nhiều tình tiết phong phú về truyền thuyết Gióng. Còn trong thực tế đa số người Việt Nam chỉ biết Thánh Gióng qua một mẩu truyện được kể trong sách giáo khoa lớp 6, chương trình THCS, dài 36 dòng mà thôi. Đó quả thật là một thiệt thòi cho Gióng và thiệt thòi lớn cho nền văn học, văn hóa, lịch sử nước nhà. Đã đến lúc chúng ta cần kể lại và giới thiệu đầy đủ hơn truyền thuyết Gióng để người Việt Nam không chỉ biết về Thánh Gióng với 36 dòng truyện kể và có cơ sở để tự hào hơn về người anh hùng truyền thuyết của dân tộc mình.
II. Các mảnh vụn của truyền thuyết Gióng ở địa phương
Truyền thuyết Gióng mà chúng tôi chọn khảo sát là dựa vào sự mô tả của GS Cao Huy Đỉnh trong tác phẩm Người anh hùng làng Gióng. Chúng tôi cũng đã đến một số địa phương mà GS Cao Huy Đỉnh mô tả để xác nhận lại các tình tiết đã được nêu trong tác phẩm. Tuy nhiên, do nhiều lí do nên chúng tôi chưa đến được toàn bộ các địa điểm đã giới thiệu. Vì vậy, phần nghiên cứu của chúng tôi trong báo cáo này chủ yếu vẫn phải dựa vào mô tả của GS. Sau này có dịp chúng tôi sẽ trở lại với các địa điểm trên.
1. Khảo sát tư liệu:
Các địa danh vùng trung châu Bắc Bộ có liên quan đến truyền thuyết Gióng
Liên quan đến sự ra đời của Gióng:
Liên quan đến con đường ra trận và đội quân ra trận của Gióng:
Liên quan đến trận đánh của Gióng:
Liên quan đến con đường lên núi Sóc của Gióng:
Liên quan đến sự hóa thân, hiển linh của Gióng:
Liên quan đến nghi lễ, hội lễ tưởng niệm Gióng và các tướng quân Gióng:
2. Liên kết tư liệu:
Câu chuyện bắt đầu từ Ông Đổng khổng lồ về hái cà để lại vết chân. Từ đó, sơ đồ đường đi của truyền thuyết Gióng gồm các chặng chính:
Chặng 1: Sự sinh đẻ thần kì báo hiệu sự xuất hiện phi thường của người anh hùng
Chặng 2: Chuẩn bị cho cuộc ra trận
+ Tuyến 1: Chuẩn bị cái ăn, cái mặc
+ Tuyến 2: Chuẩn bị vũ khí
Chặng 3: Ra trận và chiến thắng
+ Tuyến 1: Dũng sĩ lên đường
+ Tuyến 2: Những người làm công việc khác nhau đi theo Gióng
+ Tuyến 3: Những người ở địa phương khác nhau đi theo Gióng
+ Tuyến 4: Những vùng đất dũng sĩ đi qua
Chặng 4: Thắng lợi trở về
+ Con đường và hành trạng của dũng sĩ trên đường trở về
+ Những người theo Gióng trở về quê hương
Chặng 5: Tình cảm của người dân đối với dũng sĩ và nghĩa sĩ
+ Thần thánh hóa hình tượng
+ Lập đền thờ ở các địa phương
III. Kể lại truyền thuyết Gióng như một tác phẩm trọn vẹn
Sau khi mã hóa các mẩu truyền thuyết ở các địa phương, chúng tôi thử kể lại truyền thuyết Gióng theo 5 chặng trên. Sau đây là bản kể của chúng tôi:
NGƯỜI ANH HÙNG LÀNG GIÓNG
Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng Mốt có một bà lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng phúc đức, nhưng tuổi đã cao mà vẫn cô đơn. Một đêm Ông Đổng - thần mưa về hái cà ở làng, khiến trời mưa to gió lớn. Khi đi ông để lại một vết chân to kì lạ ở ruộng cà của bà lão. Sáng hôm sau bà ra ruộng vô tình dẫm phải vết chân ấy, tự nhiên thấy tâm thần rung động, về nhà thì thụ thai. Bà xấu hổ vì đã già rồi còn mang tiếng hoang thai, sợ dân làng dị nghị bèn bỏ lên rừng Trại Nòn ở. Sau 12 tháng bà sinh ra một bé trai, đặt tên là Gióng. Trời bỗng cho nhiều cua ốc để bà ăn lấy sữa nuôi con, cho bà liềm đá, thống đá, chõng đá để bà cắt rốn, tắm rửa và đặt con nằm. Chú bé rất bụ bẫm, khôi ngô nhưng ba năm cứ nằm trơ trơ chẳng biết nói năng gì khiến bà mẹ rất buồn phiền.
Bấy giờ có giặc Ân xâm phạm bờ cõi nước ta. Vua lo lắng, bèn sai sứ giả đi khắp nơi cầu người tài giỏi cứu nước. Nghe tiếng sứ giả rao, Gióng bỗng nhiên cất tiếng nói “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Khi gặp sứ giả, chú bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái gậy sắt, một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa kinh ngạc vừa vui mừng vội về tâu vua. Nhà vua liền xuống lệnh cho dân hai làng, làng Na và làng Mòi thuộc bộ Vũ Ninh (nay là Quế Võ, Bắc Ninh) rèn vũ khí theo như lời Gióng.
Lạ lùng hơn, ngay sau khi gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa may xong đã chật. Bà mẹ nghèo không thể nuôi nổi Gióng vì mỗi bữa Gióng ăn “bảy nong cơm, ba nong cà, uống một hơi nước cạn đà khúc sông”. Dân làng kìn kìn gánh gạo, gánh cà đến phụ với bà mẹ nuôi Gióng. Các cô gái ra sông gánh nước về nấu cơm, muối cà cho Gióng ăn; còn các bà mẹ suốt ngày ngồi bên khung cửi dệt vải may áo cho Gióng. Khắp làng tiếng nói cười tíu tít, tiếng thoi dệt lách cách, lách cách. Hai làng được vua giao rèn vũ khí cho Gióng cũng xẻ núi lấy sắt, nổi lửa suốt ngày đêm, tiếng búa gõ vào đe vang động cả rừng núi Vũ Ninh, còn cứt sắt thì văng tứ tung khắp làng. Ngựa sắt rèn xong lần đầu mang đến, Gióng mới vỗ nhẹ đã bẹp dí. Mọi người lại mang về, lấy thêm nhiều sắt, rèn một con ngựa khác to lớn hơn, có đủ cả ruột gan tim phổi. Xong rồi, họ hè nhau đánh cho ngựa chạy thử, vết chân ngựa tạo thành 99 hồ ao san sát quanh làng.
Khi vũ khí được mang đến, Gióng vươn vai thành một tráng sĩ to lớn khác thường, mặc giáp sắt, cầm gậy sắt, oai phong lẫm liệt. Áo may to rộng là thế mà không đủ che kín mình, bọn trẻ chăn trâu trong vùng vội chạy đi bẻ bông lau bông sậy giắt thêm quanh người Gióng. Gióng nhảy lên mình ngựa, hô to “Có ai đi giết giặc với tôi không?”. Ngựa hí vang mấy tiếng, phun ra lửa, đưa tráng sĩ xông thẳng đến núi Trâu sơn, vùng Vũ Ninh, nơi có bọn giặc đóng quân. Những người nông dân đang đập đất dưới ruộng nghe tiếng Gióng gọi liền xách về theo chân Gióng ra trận. Những người đi câu mang cả cần câu chạy theo Gióng. Một bọn trẻ chăn trâu nghe tiếng Gióng gọi và thấy đoàn quân của Gióng ào ào ra trận liền cột trâu lại rồi nhập vào đội quân Gióng. Những người thợ săn cũng cầm tên nỏ chạy theo Gióng. Đến cả hổ báo nghe tiếng gọi của Gióng cũng quay đầu ào ào theo Gióng đi đánh giặc. Đội quân của Gióng ngày càng đông đảo và khí thế vô cùng hăng hái. Bọn giặc bị đánh tơi bời, tướng giặc bị giết chết, ngựa của hắn bị một gậy của Gióng đứt lìa đầu khỏi cổ, cái đầu văng đến tận chân dãy núi Phả Lại, nay ở đó còn một hòn núi độc gọi là hòn đầu ngựa. Gậy sắt gẫy, Gióng liền nhổ một bụi tre bên đường quật vào quân giặc khiến chúng chết như rạ. Những tên còn lại giẫm đạp lên nhau chạy tháo thân. Nơi bụi tre bị nhổ tạo thành một đầm rộng bằng bảy gian nhà lớn nên nay đầm vẫn được gọi là đầm Thất Gian. Bụi tre quật vào quân giặc bị tung ra thành nhiều nhánh, văng khắp ruộng đồng vùng Vũ Ninh, nên ngày nay ta còn thấy trên những cánh đồng Quế Võ, Gia Lương, Thuận Thành thỉnh thoảng còn có những bụi tre nho nhỏ mọc lúp súp bên bờ ruộng, đó là những nhánh tre bị văng ra từ bụi tre khổng lồ kia. Ngựa Gióng đi đến đâu, vết chân để lại thành hồ ao san sát đến đó, ngựa phun lửa dữ dội làm cháy cả một làng nên làng đó giờ vẫn mang tên Làng Cháy. Những bụi tre bên đường bị lửa táp vàng tạo thanh giống tre ngà nay còn nổi tiếng khắp vùng trung châu Bắc Bộ.
Giặc đã dẹp yên. Những người dân theo Gióng đánh giặc từ biệt chàng trở về quê hương. Bọn trẻ chăn trâu cũng trở về cởi dây buộc trâu mà chăn dắt chúng. Tráng sĩ thanh thản trở về. Chàng ghé thăm làng Mòi (tên chữ là Mai Cương), nơi dân làng đã rèn ngựa sắt cho mình. Khát nước, chàng quỳ gối, rướn mình uống nước ở giếng làng Bưởi Nồi (Gia Lương, Bắc Ninh). Chàng vừa ăn trầu nên nước quết trầu còn làm giếng làng có màu đỏ đến tận bây giờ. Uống nước xong, chàng phi ngựa đến bến Bồ Đề, dừng lại nghỉ chân bên bờ sông Hồng. Dấu chân ngựa Gióng còn in trên một phiến đá lớn tại thôn Phú Viên (Gia Lâm). Từ nơi đó, chàng phóng ngựa qua sông Hồng, lại ngồi nghỉ bên Hồ Tây nghe gió hồ mát rượi. Rồi chàng ngả nắm cơm khổng lồ bà mẹ và dân làng gói cho ra ăn, xong đánh một giấc ngon lành. Tỉnh dậy, chàng một mình một ngựa ra đi, bỏ quên lại nửa thanh gậy sắt. Dân làng bên hồ hè nhau khiêng nửa thanh gậy ấy về, lập đền thờ. Nay đền vẫn còn ở đầu làng Xuân La, bên bờ Hồ Tây. Tráng sĩ qua vùng Đông Anh, lại qua Phủ Lỗ rồi phi ngựa lên núi Sóc. Hai bên đường Gióng đi qua, đất nước đã thanh bình, đồng ruộng xanh tươi, dân cư yên ổn làm ăn, vết chân ngựa của chàng để lại ao chuôm san sát. Trước khi lên núi, chàng còn ngồi nghỉ với bọn trẻ chăn trâu ở Kẻ Khốn. Bọn trẻ lấy nón vục nước dưới khe mát rượi mời Gióng uống. Chàng hỏi tên làng, biết tên là Kẻ Khốn, chàng bảo: “làng mát và đẹp thế này, sao lại tên là Khốn, về nói với các cụ trong làng đổi tên là Kẻ Mát nhé”. Từ đó làng có tên là Kẻ Mát. Từ Kẻ Mát, Gióng phi ngựa lên núi Sóc. Chàng ghìm cương ngựa, cởi áo giáp vắt lên cây trầm già (cây đó nay vẫn còn trên đỉnh núi, người dân gọi là “Cây cởi áo”), chàng quay mình nhìn lại quê hương rồi một người một ngựa bay thẳng lên trời, mất hút trong mây xanh như mãi mãi hóa thân vào non sông đất nước. Dân lập đền thờ người anh hùng ngay dưới chân núi Sóc, quanh năm hương khói. Nhà vua nhớ công ơn phong là Người là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ ngay tại quê nhà. Từ đó, mỗi khi trời hạn, dân thiếu nước làm ăn lại lên đền Phù Đổng hay đền Sóc cầu đảo thì đều ứng nghiệm. Đặc biệt, bọn trẻ chăn trâu mà cầu đảo thì trời bao giờ cũng cho mưa lớn.
—------------------------------------------------------------------
(1). Trích Phạm Văn Đồng, Nhân ngày giỗ Tổ vua Hùng. Báo Nhân Dân, ngày 29 tháng 4 năm 1969)
(2)(3). Nguyễn Văn Khỏa. Anh hùng ca của Hômero. Nxb ĐH&THCN. 1978.Tr 45
(4). Trích theo Phan Đăng Nhật. Sử thi Tây Nguyên. Nxb KHΧΗ.Η. 1998. Tr160.
(5)(6). Phan Đăng Nhật. Sđd. Tr.162