Tục ngữ về ăn uống – nấu nướng là những câu nói dân gian ngắn gọn, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân trong việc ăn uống, chế biến món ăn và giữ gìn nếp sống sinh hoạt hằng ngày.
Các câu tục ngữ về ăn uống – nấu nướng phản ánh kinh nghiệm lựa chọn thực phẩm, cách chế biến món ăn, cách ăn uống hợp lí và phép tắc trong bữa cơm gia đình. Qua đó, thể hiện sự khéo léo, tinh tế và văn hóa ẩm thực của người Việt.
|
Câu |
Giải thích |
Nguồn |
|
|
1 |
Ăn bún thang, cả làng đòi cà cuống |
Câu tục ngữ đề cao gia vị trong việc chế biến các món ăn. Sự kết hợp giữa món ăn và gia vị luôn có ý nghĩa quan trọng, ngoài việc tạo cho món ăn hương vị thơm ngon đậm đà mà còn đem lại giá trị dinh dưỡng cao. Chính vì thế, từ lâu người Hà Nội khi ăn bún thang không thể thiếu món cà cuống. Gia vị này sẽ khiến món ăn dậy mùi đặc trưng của bún thang.
|
|
|
2 |
Ăn cá nhả xương, ăn đường nuốt chậm |
Câu tục ngữ nhắn nhủ chúng ta ăn cá thì phải nhớ lừa và nhả xương, ăn đường tuy ngon ngọt nhưng cũng nên nuốt chậm kẻo nghẹn chết. Hiểu đơn giản, câu tục ngữ khuyên răn con người không nên ăn uống gấp gáp, nên từ tốn và cẩn thận, tránh hậu quả khôn lường. |
|
|
3 |
Ăn cá trắm, uống rượu tăm, vật trăm trận
|
Câu tục ngữ nhấn mạnh nguồn dinh dưỡng dồi dào có trong động vật như cá trắm và thức uống bổ dưỡng như rượu tăm cho phái nam.
|
|
|
4 |
Ăn chẳng bõ dính răng
|
Câu tục ngữ có ý là đồ ăn rất ít, ăn không thâm vào đâu.
|
|
|
5 |
Ăn cỗ là việc tổ làng
|
Ngày xưa, số dân cư trong làng không nhiều, người ta có quan niệm mỗi khi “có công có việc”, có giỗ chạp cưới xin thì phải mời thật đông người đến tham dự, càng đông càng tốt. Câu tục ngữ trên đã tái hiện lại tập tục xưa kia của người Việt.
|
|
|
6 |
Ăn cỗ nắm phần
|
Xưa kia, để có được một bữa ăn ngon người ta phải chờ đến cỗ cưới, cỗ giỗ, lễ tết. Như vậy, tính ra một năm không có quá mười ngày có “cỗ”. Chính vì vậy, các bà, các mẹ khi đi ăn cỗ thường cầm về cho con, cho cháu ở nhà nắm xôi, miếng thịt hay cái bánh, cái kẹo.
|
|
|
7 |
Ăn cơm không canh như tu hành không vãi
|
Câu tục ngữ dùng lối nói dân gian để đề cao món canh trong mâm cơm người Việt. Từ xa xưa, trên mâm cơm nước ta thường đầy đủ hai món mặn, một món canh hoặc một món mặn, một món canh.
|
|
|
8 |
Ăn được ngủ được là tiên
|
Câu tục ngữ có ý nói người luôn ăn khỏe, ngủ ngon, không vướng lo nghĩ gì thì sẽ có sức khỏe tốt. Đó được coi là hạnh phúc lớn mà không phải ai cũng có được ở trên đời.
|
|
|
9 |
Ăn ít ngon nhiều
|
Câu tục ngữ có nghĩa là ăn ít thì thấy ngon miệng, ăn nhiều quá thì thấy ngán, mất ngon. Đồng thời, câu này có có ý khuyên con người không nên quá tham lam, phải biết điểm dừng, vừa đủ.
|
|
|
10 |
Ăn lúc đói, nói lúc say
|
Lúc đói thì ăn bao nhiêu cũng vừa, ăn thức ăn nào cũng thấy ngon. Lúc say thì nói mãi cũng không biết chán. Lúc đói ăn không biết điểm dừng thì dễ bị no quá mức, có khi no quá sẽ sinh ra cảm giác đau nhức, khó chịu (do dạ dày không tiêu hóa hết). Khi say không biết giữ mồm giữ miệng thì sẽ dễ dẫn đến nói ra những lời không hay.
Câu tục ngữ có ý khuyên người ta ăn nói nên liệu mồm miệng dù đói cũng chớ nên ăn quá nhiều, lúc say lại càng phải bớt lời.
|
|
|
11 |
Ăn như mèo ăn
|
Câu tục ngữ dùng để chỉ những người ăn ít, chậm rãi, nhỏ nhẹ
|
|
|
12 |
Ăn như hùm đổ đó
|
Câu tục ngữ bắt nguồn từ chuyện hùm (hổ) kiếm ăn. Khi không kiếm được mồi, hùm thường mò đến chỗ nước chảy, ở đây người dân thường dùng đó để đơm cá. Khi tìm thấy đó cá, hùm không bắt riêng từng con để ăn mà dốc ngược đó để trút toàn bộ cá vào miệng. Nếu người nào, không gắp từng miếng mà bưng cả bát trút vào miệng thì nhân dân ta thường dùng tục ngữ này để ám chỉ. Hiểu rộng ra, câu này dùng để chỉ cách ăn uống thô tục, thiếu văn hóa.
|
|
|
13 |
Ăn se sẻ, đẻ con voi
|
Chim sẻ là loài ăn rất ít. Câu tục ngữ muốn nói những người ăn ít nhưng làm nhiều, làm được việc lớn.
|
|
|
14 |
Ăn thịt trâu không tỏi, như ăn gỏi không lá mơ
|
Trong ẩm thực Việt, món trâu xào luôn đi kèm với tỏi, cũng giống như món gỏi ăn kèm cùng với lá mơ. Câu tục ngữ khẳng định muốn món ăn ngon thì phải sử dụng gia vị thích hợp.
|
|
|
15 |
Ba đời bảy họ nhà khoai, dù ngọt dù bùi cũng phải lăn tăn
|
Giống khoai họ ráy như khoai môn, khoai sọ, … khi làm thực phẩm tạo cảm giác ngứa lăn tăn ở cổ họng, gợi cảm giác kích ứng da hay miệng lưỡi khi ăn. Câu tục ngữ ý nói: cùng dòng giống bản chất không tốt, thì dù ít hay nhiều cũng mang đặc trưng của giống ấy.
|
|
|
16 |
Bánh chưng cầu Hậu, cháo đậu quán Lào
|
Cầu Hậu là nơi có gạo nếp ngon nổi tiếng nên bánh chưng ở đây rất ngon, gạo sau khi luộc bánh rền, dẻo, thơm. Các loại đậu, lạc, khoai, nấu mềm như với đường tạo nên món ăn ngon hấp dẫn, đầy bổ dưỡng. Thị trấn Quán Lào là trung tâm mua bán của dân cư các huyện Yên Định, Thiệu Hóa. Cháo đậu ở đây nấu ngon, rẻ nên những ngày chợ phiên, người ta thường ăn trưa bằng cháo đậu. Câu tục ngữ tổng hợp món ăn vừa ngon vừa giản dị lại mang đậm sắc hồn Việt.
|
|
|
17 |
Bánh chưng xanh, vừa hành vừa mỡ
|
Câu tục ngữ nói về món ăn truyền thống của người Việt vào Tết Nguyên Đán, đó là: thịt mỡ, hành củ muối và bánh chưng xanh.
|
|
|
18 |
Bánh cuốn Thanh Trì, bánh dày Quán Gánh
|
Bánh cuốn Thanh Trì là món ăn nổi tiếng ở Hà Nội, có thể coi là món đặc sản nên thử khi đặt chân tới đất Hà Thành. Bành dày Quán Gánh là món ăn tao nhã, có từ lâu đời trong văn hóa ẩm thực người Việt. Đặc biệt, bánh dày ở Quán Gánh ngon nức tiếng. Câu tục ngữ đúc kết món ăn ngon, dân dã của dân tộc ta.
|
|
|
19 |
Bánh đúc bẻ ba, mắm toang quệt ngược cửa nhà tan hoang
|
Câu tục ngữ đề cập đến việc ăn quà bánh. Đi chợ ăn quà là chuyện thường, song nếu ăn uống không biết chừng mực thì có ngày sạt nghiệp. Câu tục ngữ phê phán lối ăn quà và nhắc nhở con người sống cần biết chi tiêu hợp lí.
|
|
|
20 |
Bưởi Đoan Hùng, cam bố hạ
|
Bưởi Đoan Hùng là một giống bưởi đặc sản Phú Thọ, nổi tiếng ở khắp miền Bắc. Tương tự, cam Bố Hạ cũng là thứ đặc sản nức tiếng ở Bắc Giang. Câu tục ngữ ca ngợi hoa quả đặc sản ở nước ta.
|
|
|
21 |
Cá bống kho tiêu, cá thiều kho ngọt
|
Câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm nấu ăn, cụ thể là kho cá: cá bống kho tiêu vừa có vị mặn của mắm, vị cay của tiêu; cá thiều kho ngọt vừa có vị mặn của mắm, vị ngọt cuả đường, của mật. Cùng là nấu món cá kho, song các cụ từ xưa đã sử dụng rất khéo kéo gia vị sao cho phù hợp với từng loại cá, giống cá.
|
|
|
22 |
Cá tươi xem nang
|
Câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm dân gian của những bà nội trợ khi chọn cá. Suy rộng ra, câu tục ngữ còn ngụ ý diện mạo con người cũng bộc lộ tính cách.
|
|
|
23 |
Cần ăn cuống, muống ăn lá
|
Câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm ăn uống của ông cha ta. Rau cần thì nên ăn thấp xuống phần gốc, còn rau muống thì nên ăn cao lên phần ngọn, phần lá vì đó là phần giòn và ngon nhất của hai loại rau này.
|
|
|
24 |
Cần tái, cải nhừ
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm nấu rau cần và rau cải. Rau cần ăn chín tái còn rau cải thì phải nấu lâu, nấu nhừ mới ngon.
|
|
|
25 |
Cây rau má, lá rau muống, cuống rau đay
|
Câu tục ngữ chỉ loài cây có thân giống cây rau má, lá giống cây rau muống còn cuống giống rau đay. Loại cây này có vị đắng, tính mát, rất tốt cho cơ thể.
|
|
|
26 |
Chí lí như bí nấu thịt gà
|
Câu tục ngữ có nghĩa là canh bí nấu với thịt gà rất ngon, rất hợp.
|
|
|
27 |
Tháng chín ăn rươi, tháng mười ăn nhộng
|
Tháng chín là khoảng thời gian rươi sinh sản và phát triển mạnh nhất, rươi xuất hiện nhiều ở vùng nước lợ, được vớt về làm chả rươi, mắm rươi. Tháng mười tằm chín nhiều, người ta kéo kén bán nhộng làm thức ăn
|
|
|
28 |
Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon
|
Câu tục ngữ tức là vẻ ngoài của con lợn có tươi tốt mỡ màng thì bên trong con lợn mới ngon, mới tốt. Cũng giống như con người vẻ ngoài nhân hậu hiền từ thì thường là người tốt bụng.
|
|
|
29 |
Cỗ không rượu, kiệu không cụ
|
Câu tục ngữ đề cao tầm quan trọng của rượu trong mâm cỗ người Việt. Một mâm cỗ mà thiếu rượu thì được ví như kiệu không có cụ ngồi.
|
|
|
30 |
Cháo húp vòng quanh
|
Cháo vừa nấu xong nóng rất khó ăn, phải húp quanh rìa bát, nơi tản nhiệt nhanh nhất, vì thế cháo nguội nhất thì nhoáng một cái cũng xong bát cháo. Qua đó, câu tục ngữ còn là phương châm “sống chung với cái đói, cái thiếu thốn triền miên” khá hay một thuở.
|
|
|
31 |
Cơm cá chả chim
|
Ăn cơm với cá là truyền thống trong mâm cơm của người Việt. Chả chim là món ăn thơm ngon, bổ dưỡng. Câu tục ngữ đúc kết lại những món ăn giản dị nhưng cũng rất đỗi quen thuộc của dân ta từ xưa tới nay.
|
|
|
32 |
Cơm rau nước vối, dễ tiêu lại lành
|
Với điều kiện kinh tế nông nghiệp lạc hậu, rất khó để có được đời sống vật chất giàu sang đầy đủ thịt cá như ngày nay. Nên người dân lao động nghèo trong xã hội xưa ca ngợi cuộc sống thanh bần, đạm bạc: “Cơm rau nước vối, dễ tiêu lại lành”.
|
|
|
33 |
Cua tháng Tám, rạm tháng Tư, ếch tháng Ba, gà tháng Mười
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm chọn lựa thực phẩm của dân gian xưa. Sản vật mùa thu và chớm đông thường chất lượng, thơm ngon và tốt nhất trong năm. Dựa trên kinh nghiệm làm nông, nhân dân ta đã đúc kết, tạo thành câu tục ngữ trên.
|
|
|
34 |
Dứa đằng đít, mít đằng cuống
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm ăn uống, cho biết mít ở phía cuống hay dứa ở phía sát cụm lá thì ngon hơn, ngọt hơn các quả khác cùng trên cành, trên cây.
|
|
|
35 |
Đắng như mật cá mè
|
Câu tục ngữ ý chỉ thức ăn đắng quá, đắng như mật của cá mè, không ăn được.
|
|
|
36 |
Rau bợ là vợ canh cua
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm trong ẩm thực của người Việt. Rau bợ, hay cỏ bợ, thực chất là một loại cỏ mọc hoang dại, ở môi trường bán thuỷ sinh. Mùa hè, nắng mưa xen kẽ là mùa của cua đồng béo ngậy và rau bợ xanh non. Canh cua nấu với rau bợ không những rất thơm ngon, “phải mùi”, mà theo y học dân gian còn có tác dụng chữa viêm, giải nhiệt, an thần đối với người mắc chứng mất ngủ, khó ngủ.
|
|
|
37 |
Thà liếm môi liếm mép, hơn ăn cá chép mùa hè
|
Câu tục ngữ là quan niệm của dân ta trong ăn uống vào mùa hè. Cá chép mùa hè ăn không ngon vì gầy, nhiều xương và tanh nên thà không ăn còn hơn.
|
|
|
38 |
Ăn ốc trông trăng
|
Trung Thu là dịp mà ốc mít, ốc nhồi béo vàng. Người Hà Nội xưa thường làm món ốc luộc chấm mắm gừng hoặc ốc hấp lá gừng để trong lúc trẻ con phá cỗ với quà bánh thì người lớn tuổi thong thả vừa nhể ốc vừa ngắm Trăng.
|
|
|
39 |
Thịt gà chấm muối, cơm nguội trộn tương
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm ăn uống của nhân dân ta từ xưa: thịt gà chấm muối, cơm nguội trộn tương. Đến nay, kinh nghiệm này vẫn còn được dân ta lưu giữ. Trên các mâm cỗ, thịt gà luộc luôn được chấm kèm với đĩa muối chanh.
|
|
|
40 |
Thịt không hành, canh không mắm
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm nấu nướng: thịt phải có hành, canh phải có mắm mới ngon. Câu này thường được sử dụng để nói về cái dở của món ăn, cái vụng của người nấu.
|
|
|
41 |
Thứ nhất phao câu, thứ nhì đầu cánh
|
Phao câu và đầu cánh được mệnh danh là miếng ngon nhất không thể bỏ qua khi thưởng thức thịt gà. Bởi lẽ hai bộ phận này là hai chỗ mềm, béo, ngậy, ăn ngon nên rất được ưa chuộng.
|
|
|
42 |
Tôm nấu sống, bống để ươn
|
Câu trên dựa trên kinh nghiệm nấu ăn: tôm phải còn sống ăn mới ngon, chả thế mà có câu đắt như tôm tươi. Còn cá bống thì ngược lại, con còn sống mà nấu ăn thì thịt rất bở, cho nên cá bống muốn nấu ngon phải để chết, người đanh cứng lại.
|
|
|
43 |
Tốt mốc ngon tương
|
Làm tương thì cần đậu nành và muối để mốc lên men ý nói trong thực tế: mốc có tốt thì tương mới ngon. Câu tục ngữ nói về kinh nghiệm làm tương là nếu mốc lên vàng đều thì tương sẽ ngọt và có màu đỏ thẫm, thơm ngon. Từ ý nghĩa đó, câu tục ngữ còn chỉ mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
|
|
|
44 |
Trâu teo, heo nở
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm nấu nướng được đúc kết lại: thịt trâu nấu thì ngót đi, còn thịt lợn nấu dôi vì nở và không bị ngót nước.
|
|
|
45 |
Vịt già gà tơ
|
Câu tục ngữ là kinh nghiệm ăn uống vịt gà: vịt già chắc thịt, ăn không tanh, không hao còn gà tơ thịt béo mềm.
|
|
|
46 |
Muốn ăn thì lăn vào bếp.
|
Nghĩa đen: Mỗi khi muốn ăn, chúng ta cần chủ động vào bếp để nấu nướng.
Nghĩa bóng: Câu tục ngữ khuyên con người mỗi khi muốn đạt được mục tiêu nào đó, cần phải chủ động, cố gắng, kiên trì làm việc.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|